Loading
Tìm kiếm trên Google

Ảnh mới nhất

Thăm dò ý kiến

Bạn suy nghĩ về mức độ thành công của các chương trình mà CLB Tấm Lòng Vàng đã thực hiện ?

bình thường
chưa đạt
tốt
hoàn toàn thành công

Lịch âm

Truyện - tùy bút

Trò chuyện cùng nhà văn Mang Viên Long(11:39 25-01-2013)

Bùi Thư

Chia sẻ: Kiểu đọc

 

Nhà văn Mang Viên Long, một cây bút quen thuộc của các tạp chí VHNT (trước & sau 1975), đã xuất bản 15 tác phẩm (gồm 14 tập truyện & 1 tập tiểu luận - tạp bút), cộng tác với nhiều trang mạng văn học nói chung và văn học Phật giáo nói riêng. Dù đã vào tuổi gần 70 thế nhưng ông vẫn làm việc, cống hiến cho văn chương, đạo pháp bằng tất cả sự nhiệt tâm và trách nhiệm của người cầm bút, chí nguyện của người con Phật. Diễn đàn Phật học Vườn Tâm đã có cuộc trao đổi nhỏ với nhà văn và được ông chia sẻ những tâm tư, trải nghiệm trong công việc viết lách, hành đạo bằng nghệ thuật văn chương.
 

Bạn có thể nghe bài viết: Trò chuyện cùng nhà văn Mang Viên Long tại đây

 

 

 

Nhà văn Mang Viên Long
 
PV: Chào bác, xin bác cho biết bác bắt đầu viết văn từ khi nào và nhân duyên nào bác đến với đạo Phật?

N.V MVL: Tôi bắt đầu viết từ vài năm cuối của thập niên 60 thế kỷ trước. Năm 1965 khi còn là sinh viên, tôi đã có bài đăng rải rác ở các báo. Đến năm 1969 tập truyện đầu tiên của tôi được xuất bản. Tôi đã cộng tác với các tạp chí văn học như : Văn, Vấn Đề, Trình Bầy, Bách Khoa, Phổ Thông, Hiện Diện, Tuổi Ngọc, Khởi Hành, (…) thời điểm đó, tôi cũng đã có phước duyên được thân cận HT. Thích Giác Lượng - là người đồng hương An Nhơn - Bình Định (Ngài là đệ tử đức Thầy Giác An). Những tháng năm dạy học ở Tuy Hòa (Phú Yên) tôi viết thường xuyên  trên các tạp chí Văn học ấy nên Ngài yêu mến. Mỗi lần đi công tác Phật sự về Miền Trung, ghé thăm quý Sư ở Phú Yên – ngài đều ghé lại thăm tôi. Ngài đã gởi tặng tôi nhiều Kinh sách, trong đó có bộ Kinh Hoa Nghiêm, tặng tôi một số tập thơ với bút danh Tuệ Đàm Tử. Một lần, tôi được tháp tùng cùng phái đoàn của quý Hòa thượng và rất đông quý sư khác nữa đi hoằng pháp ở ngoài đảo Phước Hải một tuần lễ. Đó là tịnh xá Ngọc Hòa ở Vũng Bấc, có rất đông các bà con ở đảo lên nghe pháp, tôi cũng ngồi ở một tảng đá gần đó lắng nghe quý ngài thuyết pháp mỗi đêm. Khi hòa thượng về tịnh xá Ngọc Duyên ở Đập Đá tôi cũng đã đến thăm Ngài được mấy lần. Từ đó, tôi cũng đã bắt đầu tìm hiểu và thâm nhập Phập pháp bằng nổ lực và niềm tin kiên cố. Tôi đã tìm thấy ở những lời Đức Thế Tôn khuyên dạy là một triết lý sống rất gần gũi, thực tế và vô cùng mầu nhiệm. Sau năm 1978, tôi nghỉ dạy trở về quê nhà - một hôm tôi đang sửa xe đạp trước hiên thì thấy Ngài đi chiếc xe Honda dame đến nhà thăm tôi. Tôi mời Hòa thượng vào nhà nhưng ngài chỉ đứng ở sân, hỏi thăm tôi một chút, rồi từ  hôm đó, tôi không biết thêm tin tức gì về Ngài…Tuy vậy, hình bóng khiêm từ, tấm lòng cởi mở vui vẻ, nụ cười luôn nở trên môi của Ngài đã khắc sâu trong nỗi nhớ của tôi sau bao nhiêu năm…

PV: Bác có thể kể vài tác phẩm tiêu biểu đã xuất bản được không ạ?

N.V MVL:  Được thôi! Tính đến năm nay – 2012, tôi đã ấn hành được 15 tác phẩm- trong đó 14 tập truyên ( trong đó 5 tập được in trước 1975) và 1 tập tiểu luận tạp bút  (dày trên 450 trang - nhà xuất bản Hội Nhà Văn tháng 11 năm 2012) ) gồm các bài đã viết từ nhiều chục năm – thuộc 3 lĩnh vực: 1. Đạo Phật và Tôi, 2. VHNT và Tôi, 3. Đời Sống và Tôi. Năm 2013 nếu “đủ duyên” tôi sẽ cho in tiếp tập TL&TB 2. Hiện tại, tôi còn 2 bản thảo tập truyện đã hoàn chỉnh, đang chờ “duyên may” để giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Từ bao giờ bác bắt đầu viết văn học Phật giáo và các tác phẩm đó được viết dưới hình thức nào?

N.V MVL: Đến với văn học Phật giáo tôi cũng có nhiều nhân duyên lành – có thể nói là “bất khả tư nghì”! ( không thể nghĩ bàn). Thật ra, viết về các đề tài Phật giáo thì cũng có nhiều người đã viết, nhưng có thể “rơi vào” 2 trường hợp: Một là tác phẩm như một “bản sao” của các giáo lý Phật giáo, khô và khó hiểu! Đó chưa phải là một tác phẩm văn học. Hai là viết dễ dãi, lập lại – hay không có những ý tưởng, cảm xúc mới lạ, không bắt nguồn từ đời sống thực tiễn đã được “thực chứng” qua nhiều năm tháng. Lối viết chung chung như vậy sẽ không thuyết phục được người đọc vì chưa chuyển tải được những gì cần thiết cho người đọc! Bước đến cửa Đạo đã khó, vô được bên trong càng khó hơn. Tác phẩm viết về Phật giáo có một đòi hỏi tự thân khá cao – chính nó phải là hơi thở, là máu thịt, là niềm tin yêu sâu sắc của tác giả. Lúc ấy, tác phẩm mới có thể gọi là một tác phẩm văn học đúng nghĩa. Tôi nhớ có lần trao đổi với nhà văn lão thành Võ Hồng về các sáng tác (thơ & văn nói chung) viết về Phật giáo – Ông cũng nhìn nhận: “ Viết về Phật giáo không dễ chút nào, nó đòi hỏi ở người viết nhiều điều kiện như am hiểu  về Phật pháp, thực chứng từ đời sống, trải nghiệm qua bao tháng năm…. rất khắt khe – không đơn giản như viết cho ngoài đời thường”. Vì vậy, để chuyên sâu và viết được dễ dàng về mảng này thì phải đến năm 1991, do “nhân duyên” không thuận ngoài đời -  tôi đã có cơ hội được tiếp cận Phật pháp một cách đầy đủ hơn, được Ân sư Thích Thiện Đạo “ trợ duyên” – được sống trong chùa nhiều tháng, cùng đọc kinh, hành trì, làm Phật sự cùng với các Cô Chú. Tôi tinh tấn tìm hiểu qua sách báo, ngày càng cảm thấy chân giá trị mầu nhiệm của Phật pháp, Thầy Thiện Đạo đã “cho” tôi tập “Pháp Bảo Đàn Kinh” của Lục Tổ Huệ Năng và chính nhờ “duyên lành” này – tôi  đã vững vàng bước vào Đạo như ý nguyên của mình! Thầy Thiện Đao đã khích lệ tôi nên viết cho báo Giác Ngộ (vì nhà chùa có đặt mua). Tôi bắt đầu viết cho Báo Giác Ngộ (lúc ấy là bán nguyệt san) bằng những bài thơ tâm huyết. Sau nhiều kỳ bài tôi luôn được đăng tài trên GN – Cư sĩ Tống Hồ Cầm – Phó tổng biên tập đã có thư riêng động viên tôi hãy tiếp tục cộng tác với báo. Tôi bắt đầu viết và gởi truyện ngắn, những bài tạp bút, hay tiểu luận về các vấn đề Phật giáo. Có bài  được đăng trên trang bìa - đó là bài “ suy nghĩ về một câu kinh pháp cú”. Tôi tiếp tục cộng tác với GN vì tìm thấy ở đó một môi trường học hỏi Phật pháp thích hợp. Có dịp vào Saigon tôi đều ghé thăm tòa soạn GN, được mời tham dự vài buổi họp ở tòa soạn với lời giới thiệu của CS Tống Hồ Cầm: “nhà văn & nhà nghiên cứu Phật học”... Được Quý Thầy Thích Trí Quảng (TBT), Thích Thiện Bảo (TKTS), quý anh chị em trong tòa soạn thương quý và động viên. Khi GN chuyển sang tuần báo, CS THC đã 2 lần gởi thư mời tôi vào làm việc luôn ở GN – ông sẽ “lo liệu” cho một chỗ ăn ở tại một ngôi chùa gần tòa soan nhưng, “nhân duyên” không thành! Tôi tự an ủi: “Làm Phật sự thì ở đâu cũng có thể làm tốt, miễn có tấm chân tình với Đạo!”

PV: Còn mảng thơ ca thì sao, bác có sáng tác thơ không? Theo bác, những yếu tố nào quan trọng đối với một người cầm bút?

N.V MVL: Bắt đầu đi vào “nghiệp văn chương”  hầu như ai cũng bắt đầu bằng con đường thơ mộng, dễ dàng là “làm thơ”! Tôi cũng có làm thơ nhưng không nhiều. Nhất là những lúc thật buồn - cảm xúc tràn về nhanh và mạnh mẽ - tôi ghi lại, như một kỷ niệm thôi. Hiện tôi có hai bản thảo của hai tập thơ nhưng chưa hề nghĩ sẽ xuất bản! Hàng tháng, tôi nhận được vài ba tập thơ của các tác giả gởi tặng - nhờ tôi đọc và “ góp ý & giới thệu”. Thỉnh thoảng, tôi cũng nhận viết lời “tựa” cho vài tập thơ của vài thân hữu – như ghi dấu một kỷ niệm! Tôi nhận công việc “chọn & viết lời nhận dịnh thơ” cho trang thơ Vô Ưu từ hơn mười năm nay – gọi là “ Hoa Tâm Trong Vườn Đạo” được nhiều nhà thơ, người làm thơ gởi bài tham gia! Theo tôi, sáng tác thơ (cũng như văn xuôi) cần phải được chuyến hóa, cần phải được “trải nghiệm”  qua đời sống thực – để có được những vần điệu chỉ mang “hơi thở Phật giáo”, thấm đượm thiền vị, bàng bạc mà vi tế; mới lạ (cả cảm xúc và hình ảnh, ngôn từ) là sự tiêu hóa đã nhuần nhuyễn chứ không hẳn cứ dùng nhiều từ ngữ Phật pháp, hay lôi kinh điển đưa vào thơ cho nhiều, hay triết lý khó hiểu thì nói đó là thơ Phật pháp. Thơ là phải thoát khỏi sự ràng buộc về ngôn ngữ nhưng vẫn truyền tải được cái tinh túy mầu nhiệm sâu xa của Đạo.

Nghề nghiệp nào cũng cần phải học hỏi, trau dồi và làm việc với lương tâm của mình và phải luôn tỉnh thức, nhạy bén để nhận ra bản chất của vấn đề và phủ nhận trước mọi cám dỗ. Ngày trước giải phóng, tôi có nhận làm phóng viên và có rất nhiều quyền lợi, cũng có những người mang đến cho tôi vật chất để cám dỗ - để làm thay đổi bài viết, nhưng tôi dứt khoát từ chối – chỉ làm những việc gì cần làm cho số đông, cho người cô thế, cho sự công bình….. Đến giờ, ngay cả khi tôi viết lời tựa (nhận định thơ) và thi phẩm, tôi cũng không thể viết khác đi so với giá trị nghệ thuật của chính tác phẩm ấy. Tôi đề cao sự trải nghiệm, tiếp cận thực tế, tâm hồn rộng mở nhạy bén trước đời sống – và nhất là sự chân thành đến với Thơ, với Người. Thơ không có chỗ để họ khoa trương, làm dáng, lập dị, triết lý kì quoặc hay tưởng tượng lung tung. Thơ là nước mắt và máu và hơi thở của chính tác giả! Có thể nói, nhà văn (nhà thơ) – như một nhà văn nào đó đó nói: “ Muốn cho thiên hạ khóc mình thì chính mình phải à người khóc trước đã”!

PV: Vậy bác có thể chia sẻ đôi chút về cuộc đời bác?

N.V MVL: Tôi mồ côi từ nhỏ (mồ côi cha tù trong bụng mẹ - 6 tháng tuổi, mồ côi mẹ lúc lên 8 tuổi), thời gian được đi đến trường của tôi rất khổ. Sau khi tôi học xong Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) anh trai tôi không cho tôi đi học tiếp nữa. Tôi phải tự đi tìm việc làm như dạy kèm, làm các việc lặt vặt trong gia đình như chở con người ta đi học… để được ăn ở và có có thể đến lớp ngày 2 buổi. Đậu tú tài 2 xong tôi vào Sài Gòn ghi danh học Luật. Năm sau, tôi thi đậu vào trường QG Sư Phạm Quy Nhơn và trở về Bình Định tiếp tục học sư phạm. Sau khi tốt nghiệp ra trường tôi dạy học ở Tuy Hòa. Nhiệm sở cuối (1971 - 1978) là Trường Trung Học Tổng Hợp Nguyện Huệ Thị xã Tuy hòa (Phú Yên). Tuy nhiên từ sau năm 1978, tôi không được dạy nữa do ngành học của tôi sau này không phù hợp vì chuyên ngành của tôi là Việt Văn và Anh Văn. Tôi chuyển sang làm thợ, tôi làm đủ các nghề để kiếm sống. Mặc dù cuộc sống  rất vất vả nhưng lương tâm tôi vẫn luôn trong sáng với ý nghĩ – bắt chước lời cả NCT thuở xưa: “ Lúc làm Thầy ta không cảm thấy là vinh – khi làm Thợ ta cũng chẳng thấy gì khác lạ!”

PV: Bác có dự định gì cho thời gian sắp tới?

N.V MVL:  Dĩ nhiên là trong đời sống ai cũng có ước mơ và dự định. Dự định gần, tôi sẽ gắng xuất bản tập Tiểu Luận & Tạp Bút 2 “ Như Những Giọt Sương”, sau đó , một tập truyện ngắn có tên “ Quán Café Tulip”. Dự định xa, tôi sẽ viết tiếp tập hồi ký có tên “ Hồi Ký Một Đời Người”. Tôi rất mong được chia sẻ kinh nghiệm sống, chia sẻ niền vui và nỗi bất hạnh, nhất là những ghi nhận về Phật pháp mà đã bao năm tôi được ân hưởng pháp nhũ từ  triết lý sống của Đức Phật. Có thể nói : “ Tôi còn an vui sống được cho đến hôm nay là nhờ Phât Pháp”. Tôi muốn chia sẻ rất nhiều về quãng đời sau này của tôi khi tôi có duyên lành thâm nhập được Phật pháp. Tuy nhiên, hiện nay sức khỏe của tôi không tốt lắm (động mạch chủ bị hẹp nặng). Tôi đang gắng điều trị với khả năng hạn chế của mình để có thể hoàn tất tập hồi ký là ước mơ một đời còn lại của tôi! Xin hãy cầu nguyện cho tôi nhé!

PV: Mô Phật! Xin cảm ơn bác về buổi trao đổi thú vị. Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho bác luôn luôn thường an để tiếp tục công việc, chí nguyện của mình. Hi vọng rằng tập hồi kí của bác sẽ được hoàn thành trong thời gian sớm nhất.

 

Viên Anh thực hiện

Bình luận (0)

Viết lời bình mới:

Mã bảo vệ : (*)